0977 060 286
(0) sản phẩm

Compresser là gì? có nên dùng Bộ nén trong hệ thống âm thanh không?

Compressor là một cái tên khá xa lạ với nhiều người bởi nó là một thiết bị âm thanh không được phổ biến. Hãy cùng Audio Hải Hưng tìm hiểu xem nó là thiết bị như thế nào, có tác dụng gì và có cần thiết phải sử dụng trong dàn âm thanh hay không nhé!

Compressor là gì? 

- Trước khi nói đến compressor, chúng ta cần nhắc đến compression. Đây là hiệu ứng âm thanh giúp giảm bớt sự biến động về âm lượng của tín hiệu âm thanh. Thiết bị chính xử lý tín hiệu này là Compressor và Limiter. Compression làm giảm bớt sự khác biệt về âm lượng của âm thanh giữa các tín hiệu âm thanh lớn nhất và nhỏ nhất, nó khiến cho âm thanh loa phát ra đều đặn và mượt mà hơn. Nghĩa là khi có các tín hiệu âm thanh đầu vào như một giọng hát (vocal), một loại nhạc cụ (keyboard, guitar...) thì chắc chắn âm thanh sẽ có lúc to, lúc nhỏ khác nhau theo mỗi giai đoạn của bản nhạc, hiệu ứng compression này sẽ giúp giảm bớt sự biến động về âm lượng của âm thanh, cho bản nhạc nghe được hài hòa hơn. Và compressor là thiết bị đóng vai trò xử lý hiệu ứng compression này.
- Nói cách khác, compressor sẽ thiết lập một mức âm lượng trung bình cho tín hiệu âm thanh đi được phát ra từ bộ dàn của bạn. Nhờ vậy mà âm thanh sẽ đạt hiệu quả cao hơn, không quá to và không quá nhỏ. Không những thế, trong một số trường hợp, compressor còn có thể giúp giọng hát trở nên hay hơn, có sức sống hơn hoặc thay đổi bản mix trở nên hay hơn.
bo-nen-am-thanh
Bộ nén âm thanh chuyên nghiệp

Có cần thiết phải dùng compressor trong hệ thống âm thanh không?

Có rất nhiều lý do để Audio Hải Hưng khuyên chúng ta nên sử dụng compressor nhưng việc sử dụng nó như thế nào lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và tay nghề của chúng ta. Sau đây là một số lý do giúp chúng ta có nên dùng compressor hay không nếu vẫn còn băn khoăn nhé.
- Thứ nhất, compressor xử lý hiệu ứng compression là giảm sự khác biệt về âm lượng giữa các tín hiệu âm thanh đi ra từ dàn âm thanh. Nhờ đó âm lượng trung bình được ổn định và đẩy cao bản mix nghe to hơn, hiện đại hơn, bóng bẩy hơn. Âm thanh của nhạc cụ, giọng hát cũng nghe rõ ràng hơn, không còn hiện tượng nốt thì vừa, nốt thì nhỏ quá hoặc to quá…
- Thứ hai, nếu sử dụng compressor một cách hợp lý, chúng ta có thể khiến cho bản âm thanh nghe tự nhiên và có sức sống hơn.
- Thứ ba, với compressor, chúng ta có thể thay đổi chất âm cho những tín hiệu âm thanh của dàn một cách nhẹ nhàng mà không sợ bị méo tiếng bởi đa số các compressor đều có chất âm rất đặc trưng. Chúng sẽ khiến cho tín hiệu âm thanh đi qua có một dấu ấn với mức độ khác nhau, phụ thuộc vào việc bạn bắt compressor tác động vào âm thanh nhiều hay ít.
Tìm hiểu đến đây thì chúng ta đã biết có nên dùng compressor trong hệ thống âm thanh hay không rồi đúng nhỉ? Giờ cùng Audio Hải Hưng tìm hiểu các sử dụng thiết bị Compressor để xem tín hiệu âm thanh được xử lý và biến đổi như thế nào nhé!

Cách sử dụng compressor trong hệ thống âm thanh

 Trước tiên, chúng ta đừng quá ngạc nhiên khi nhìn vào giao diện của một compressor hay phát điên khi tra từ điển mà vẫn chẳng hiểu gì cả nhé. Bởi những thông số của compressor không thể ngay lập tức luận ra từ các giải nghĩa của từ điển. Tùy vào từng Compressor, số lượng thông số được phép điều chỉnh có thể nhiều hoặc ít hơn danh sách dưới đây. 

Threshold

- Compressor là thiết bị điều khiển âm lượng một cách tự động. Nó tự động phân tích tín hiệu âm thanh, nếu thấy tín hiệu đó thỏa mãn tiêu chí bạn đặt ra, nó sẽ tự động tác động lên âm thanh. Threshold chính là tiêu chí đó.
- Threshold có vai trò như hoa tiêu chỉ điểm báo cho Compressor biết khi nào được phép bắt đầu hoạt động. Nó quy định 1 mức cường độ âm thanh cụ thể nào đó (ví dụ: -23d), nếu cường độ âm thanh vượt quá ngưỡng đó, Compressor sẽ ngay lập tức can thiệp và giảm cường độ xuống. Còn nếu cường độ âm thanh thấp hơn ngưỡng đó thì Compressor sẽ không xử lý để tín hiệu âm thanh tự nhiên đi qua. Tuy nhiên, trong 1 số trường hợp, kể cả khi cường độ tín hiệu âm thành nằm dưới threshold 1 khoảng nào đó, Compressor vẫn sẽ kích hoạt. Điều này phụ thuộc vào tham số Knee (tham số Knee  Audio Hải Hưng sẽ chia sẻ ở phần dưới).
ty-le-nen-compressor
Tỷ lệ nén của 
Compressor 
 
- Chính vì vậy có thể khẳng đinh, Threshold chính là một trong hai thông số quan trọng nhất của của Compressor. Thậm chí, nếu các compressor tối giản chức năng chỉ với 2 điều khiển duy nhất thì Threshold luôn là một trong hai.

Compression Ratio

- Compressrion Ratio (tỉ lệ nén) chính là thông số quan trọng thứ 2. Ratio quy định mức độ can thiệp của Compressor lên cường độ tín hiệu âm thanh nếu cường độ tín hiệu vượt quá Threshold.
- Ratio càng cao thì Compressor càng giảm mạnh cường độ tín hiệu âm thanh. Nhiều người thường bị nhầm giữa hai thông số này. Chúng ta hãy nhớ Ratio là tỷ lệ chứ không phải là một con số cố định nhằm ám chỉ số dB bị giảm đi bởi compressor. Ratio của compressor thường được biểu diễn tỷ lệ dưới dạng n:1 (ví dụ: 1:1, 2:1, 3:1, 4:1, 5:1…)
Vì dụ Ratio là 4:1, khi tín hiệu vượt quá threshold 4dB, Compressor sẽ giảm cường độ tín hiệu âm thanh để nó chỉ vượt quá threshold theo tỷ lệ 1/4 của 4dB, tức là 1dB. 
Cụ thể hơn:
- Số dB mà compressor cho phép cường độ tín hiệu âm thanh vượt ngưỡng Threshold = 1/n
- Nếu Ratio tỉ lệ 1 : 1 thì nó sẽ không làm gì cả, để im cho mọi tín hiệu âm thanh đi qua.
- Căn cứ vào Ratio, chúng ta sẽ biết được thế nào được coi là nhẹ, vừa và mạnh. Thông thường, tỉ lệ 2 : 1 là nén nhẹ nhàng. Từ 3 : 1 đến 4 : 1 là nén vừa phải. Từ 5 : 1 đến 8 : 1 trở lên là nén mạnh.
- Ngoài ra, khi Ratio từ 10 : 1 đến ∞:1 (∞ là dương vô cực), Compressor được coi như 1 limiter. Tại ratio ∞:1, Compressor sẽ trở thành BrickWall Limiter và không cho tín hiệu vượt quá Threshold nữa.

Attack

- Attack là thông số thể hiện thời gian compressor tác động vào tín hiệu âm thanh. Nói một cách khác, attack ảnh hưởng tới độ nhạy, độ chính xác của Compressor trong việc xử lý các tín hiệu âm thanh đi qua.
- Attack còn được viết là attcack time, attack phase và có nghĩa là giai đoạn mở đầu của quá trình nén. Tuy nhiên, trên compressor bạn chỉnh attack là 10ms thì chưa chắc attack phase sẽ luôn diễn ra trong 10ms mà có thể chậm hơn hoặc nhanh hơn. Bởi nó còn tùy thuộc vào số dB compressor cần giảm đi của tín hiệu gốc ít hay nhiều. Lý do là vì trong thực tế sử dụng, không hãng sản xuất nào biết được chúng ta sẽ căn Threshold, ratio… là bao nhiêu. Cho nên, nếu attack phase luôn xảy ra trong một thời gian cố định như chúng ta đã căn thì đôi khi sẽ quá chậm so với sô dB bị nén nhỏ và sẽ quá nhanh với số dB bị nén lớn. Mà như vậy thì người dùng sẽ rất khó để kiểm soát công cụ của mình. Bởi vậy, nhà sản xuất thường lấy 1 giá trị tham chiếu để quy định Compressor mất bao nhiêu thời gian để giảm đi số dB đó (thường là 10dB).
Attack-Time
Attack trong 
Compressor 
 
Ví dụ: nếu bạn để attack là 5ms còn giá trị thiết lập của nhà sản xuất là 10dB. Tức là compressor sẽ mất 5ms để giảm đi 10dB, mất 10ms để giảm đi 20dB với cùng một giá trị 5ms. 
- Một số Compressor chỉ cho phép chúng ta lựa chọn giữa Fast Attack và Slow Attack (ví dụ SSL Channel Compressor). Tùy nhà sản xuất và Model, fast attack thường rơi vào khoảng 20-1000 micro giây (1 micro giây bằng 1/1.000.000 giây). Slow Attack thường dao động từ 20-50 mili giây. Attack nhanh (dưới 10ms) sẽ làm giảm độ dày của âm thanh và ngược lại.
Ví dụ: khi xử lý tiếng va chạm của hai chiếc xe ô tô đi với tốc độ cao. Attack nhanh sẽ khiến cho âm thanh mỏng, yếu và thiếu tự nhiên do compressor đã gần như ngay lập tức can thiệp làm yếu đi giai đoạn mở đầu của tiếng va chạm đó. Còn nếu bạn dùng attack chậm (20 – 50ms) âm thanh va chạm nghe sẽ mạnh hơn, uy lực hơn vì nó tác động chậm hơn, phần năng lượng mạnh nhất của tiếng va chạm ít bị can thiệp hơn. Thay vào đó, nó tác động chủ yếu vào phần âm thanh tiếng va chạm ngân ra sao.

Release

- Ngược lại với Attack, Release ảnh hưởng tới khoảng thời gian Compressor cần để chuyển tín hiệu từ dạng nén hoàn toàn thành dạng bình thường (không bị nén).
Ví dụ: Nếu compressor có gọt đi của chúng ta 3dB, sau khi cường độ âm thanh không còn thỏa mãn tiêu chí do Threshold đặt ra, Compressor sẽ thực hiện giai đoạn Release (release phase) để trả lại 3dB đã mất giúp tín hiệu audio phục hồi lại mức âm lượng thu/phát như bình thường. Tương tự như Attack, giả sử Release chúng ta để là 30ms – điều này không có nghĩa là Compressor sẽ luôn thực hiện quá trình Release trong vòng 30ms. Nó phụ thuộc vào số dB mà Compressor đã cắt đi của tín hiệu gốc và phụ thuộc vào giá trị tham chiếu của hãng sản xuất nữa. Và cũng giống như attack, nếu compressor lấy di của chúng ta 10dB với cùng một giá trị release chúng ta đã căn từ trước, quá trình phục hồi âm lượng thu/ phát cho tín hiệu audio gốc sẽ mất ít thời gian hơn so với khi compressor lấy đi của chúng ta 20dB.
Khi thao tác với Compressor, các kỹ sư âm thanh thường để Release ngắn nhất có thể trước khi nghe thấy âm thanh trở nên thiếu tự nhiên, khó chịu (trừ khi đó là điều họ muốn). Vì khi Compressor đang trong quá trình thực hiện Release Phase, nếu âm thanh gốc lại 1 lần nữa thỏa mãn tiêu chí do Threshold đặt ra, Compressor sẽ vẫn điềm nhiên thực hiện tiếp giai đoạn Release của mình tới khi xong thì nó mới bắt đầu theo dõi cường độ tín hiệu để tiếp tục thực hiện chu kỳ tiếp theo của mình. Điều này dẫn tới việc Compressor sẽ có hành vi tác động không nhất quán đối với các nốt nhạc/âm thanh khác nhau của track Audio hiện tại, khiến âm thanh nghe thiếu tự nhiên.
Release-Time
Release trong 
Compressor 
 
- Tuy vậy, nếu biết cách sử dụng Release dài, Compressor lại giúp bạn giải quyết khá nhiều vấn đề trong bản mix và có các hiệu ứng thú vị.
Hiệu ứng Pumping và Breathing
Pumping: Khi Attack và Release quá ngắn hoặc kết hợp với nhau không hợp lý, sự thay đổi về âm lượng diễn ra đột ngột hoặc không tự nhiên dẫn tới cảm giác âm lượng thay đổi quá rõ ràng. Nói 1 cách tượng hình, chúng ta sẽ thấy âm thanh cứ như nhảy bổ vào mặt người nghe rồi thụt lại, sau đó tiếp tục lặp đi lặp lại như thế. Tuy nhiên, khi sử dụng đúng trường hợp, đây lại là một hiệu ứng rất thú vị. Các bạn hãy nghe lại những bản classic rock năm 60-70 để cảm nhận hiệu ứng pumping trong tiếng trống của họ. Pumping là 1 phần của Rock’n’Roll, và tới thời nay, nếu các bạn làm EDM, hãy thử master effect này xem sao nhé.
Breathing: Tương tự như Pumping nhưng sự không ổn định về âm lượng chỉ diễn ra với các tần số cao (thường là tiếng ồn, tiếng thở trong bản mix) do đó tạo  ra cảm giác có tiếng ai đó đang… thở. Cách minh họa dễ nhất? Bạn hãy nén vocal mạnh tay với attack ngắn, release ngắn và lắng nghe sự thay đổi trong tiếng thở của ca sĩ nhé.
Với người mới tập mix nhạc mà phải giao sản phẩm cho khách, Audio Hải Hưng khuyên các bạn nên dùng các compressor có chức năng Auto Release cho an toàn. Trong đa số các trường hợp thông thường, Auto-Release cho kết quả tương đối tốt.

Knee

- Knee giúp bạn điều chỉnh độ mượt mà và tự nhiên khi compressor biến đổi tín hiệu âm thanh từ trạng thái bình thường không nén (uncompressed) sang trạng thái bị nén (compressed).
- Có 3 loại Knee phổ biến: Hard Knee, Medium Knee, SoftKnee.  Ở chế độ Soft Knee, âm thanh chuyển từ trạng thái thường sang bị nén 1 cách nhẹ nhàng, từ từ hơn rất nhiều so với Hard Knee. Medium Knee là mức nằm giữa.
- Khi thiết lập Soft-Knee hoặc Medium Knee, Compressor sẽ tác động khi tín hiệu còn chưa kịp chạm tới Threshold và tăng dần ratio khi cường độ tín hiệu tăng dần. Compressor sẽ đạt ratio tối đa (là mức chúng ta quy định) khi cường độ tín hiệu vượt quá Threshold. Điều này dẫn tới việc Compressor sẽ tăng dần mức tăng cường độ tín hiệu. Tín hiệu càng to, Compressor hoạt động càng mạnh. Kết quả là sự chuyển biến về cương độ âm thanh mượt mà, tự nhiên hơn.
Compression-Knee

Make-up Gain

Nút Make-up Gain (cách viết khác là Output Gain hoặc là Gain) cho phép bạn điều chỉnh cường độ tín hiệu đầu ra của Compressor. 
compression-makeup-gain

Gain Reduction Meter

- Đại đa số Compressor cho chúng ta biết số dB bị cắt đi bởi Compressor là bao nhiêu qua công cụ đo cường độ tín hiệu tên là Gain Reduction (viết tắt là GR). Nhờ đó, chúng ta dễ dàng theo dõi xem lúc nào thì Compressor hoạt động/không hoạt động, hoạt động nhanh hay chậm, tác động ít hay nhiều bằng mắt thường.
- Một số Compressor có nút Auto Make-up. Trong khi căn chỉnh Compression, Hải Hưng khuyên không nên sử dụng nút Auto Make-up  vì dễ lầm tưởng rằng mình đang làm cho âm thanh hay hơn. 
- Hãy theo dõi sát sao giá trị của Gain Reduction trong suốt quá trình sử dụng Compressor. 
Gain-Reduction-Meter

Một số dòng compressor phổ biến hiện nay

Trên thị trường hiện nay có một số loại compressor được nhiều người tiêu dùng tin tưởng lựa chọn vì chất lượng tốt, hoạt động ổn định, tuổi thọ tương đối cao. Có thể kể đến như:
  • FET compressor: sử dụng bóng đèn bán dẫn, độ tin cậy, chính xác cao, phản ứng nhanh nhạy.
  • VCA compressor: sử dụng mạch điện tử, độ chính xác rất cao
  • Tube/ Valve compressor: sử dụng bóng đèn điện tử, thời gian attack và release chậm hơn 2 loại trên.
  • Optical/ Opto compressor: sử dụng mạch điện cảm ứng ánh sáng để điều khiển cường độ nén âm thanh, ánh sáng phát ra càng mạnh thì giảm cường độ tín hiệu âm thanh cũng mạnh hơn. Chính vì vậy mà chất âm rất tự nhiên và ấm áp
Việc lựa chọn compressor nào trong các dòng sản phẩm trên tùy thuộc vào nhu cầu, mục đích sử dụng cũng như chi phí có thể chi trả. Tuy nhiên, không thể không thừa nhận việc chất lượng âm thanh tốt hơn nhiều nếu có sự can thiệp của compressor. Cho nên, hãy tìm hiểu để chọn cho mình một sản phẩm phù hợp với yêu cầu của mình.

Qua vài dòng trên đến giờ thì chúng ta đã có cái nhìn tổng quan về compressor rồi đúng không nào? Nhưng để làm chủ được thiết bị compressor còn cần phải có nhiều kĩ năng cũng như sự luyện tập trong một thời gian nhất định. Chính vì vậy, đừng vội nản chí nhé các bạn nếu có gì khó khăn xin vui lòng liên hệ với Audio Hải Hưng, Để chúng tôi có thể giúp bạn có được 1 hệ thống âm thanh hoàn hảo?

Bài viết khác:
Các đối tác cung cấp
Âm thanh Crown
Âm thanh Soundcraft
Âm Thanh Toa
Âm thanh Lexicon
Âm Thanh Boston
Âm Thanh Bosch
Thiết bị Âm Thanh Denon
Âm Thanh DBX
Âm Thanh AKG
Âm Thanh EV
Âm thanh Klipsch
Âm Thanh Tannoy
Âm Thanh Jamo
Âm Thanh Yamaha
Âm thanh JBL
Âm Thanh DynAcord
Âm Thanh Shure
Âm thanh Accuphase
Âm thanh Ahuja
Âm thanh APG
Âm thanh Audiofrog
Âm Thanh B&W
Âm thanh Behringer
Âm thanh Blastking
Âm thanh BMB
Âm thanh BSS Audio
Âm thanh Byerdynamic
Âm thanh cambridge
Âm thanh Dolby
Âm thanh Guiness
Âm Thanh Haiaudio
Âm thanh Hanet
Âm thanh Harman
Âm thanh Infinity
Âm thanh Inter M
Âm thanh Jarguar
Am thanh Marantz
Âm thanh Martin Logan
Âm thanh Master Audio
Âm thanh Music wave
Âm thanh Musiccore
Âm thanh Ohm
Âm thanh Paradigm
Âm thanh Parasound
Âm thanh Pathos
Âm Thanh Philips
Âm Thanh Q acoustics
Âm thanh Quad
Âm thanh Teac
Âm thanh Televic
Âm thanh Unison Research
Âm thanh Việt KTV
Âm thanh Wadia
Âm thanh Wharfedale
hãng Clay Paky
Thiết bị âm thanh Alto
Thiết bị âm thanh Fone Star
Thiết bị âm thanh Sennheiser
Thiết bị ánh sáng LQE